Sự lưu trữ, bài tiết và thành phần của mật

0

Sự bài tiết mật.

Gan bài tiết mặt qua hai giai đoạn: đầu tiên các tế bào gan sản xuat ra mặt gọi là “mật đầu” chứa một lượng lởn axit mặt, cholesterol và các thành phần hữu cơ khác. Mật đầu được bài tiết vào các ống mặt rất nhỏ nằm giữa các tế bào gan; (mật đầu chảy vể vách liên thùy, tại đây các ống mặt nhỏ đổ vào những ống mật tận rồi vào những ống mật ngày càng lớn hơn, cuối cùng đến ống gan và ống mật chung. Từ ống mật chung, mật chảy trực tiếp vào tá tràng hoặc qua ống túi mật để vào tích trữ trong túi mật. Trong quá trình chảy qua những ống mật này, mật dầu được bổ sung thêm dung dịch NaHC03 làm cho khối lượng toàn phần của mật tăng gấp đôi. Sự bài tiết bổ sung là do tác dụng kích thích của secretin. Như vây bicarbonat của dịch tụy làm trung hòa axit của dạ dày.

luu-tru-bai-tiet-thanh-phan-dich-mat-1

Sự trữ mật trong túi mặt.

Mật được bài tiết liên tục bởi tế bào gan và được chứa trong túi mật cho đến khi tá tràng cần dến. Thể tích tối đa của túi mật vào khoảng 20 đến 60 ml, lượng mật được dự trữ trong túi mật là nước, Na+, C1 và các chất điện giải khác, được niêm mạc túi mật hấp thụ liên tục, do đó các thành phần khác của mật như muối mật, cholesterol, lecithin, bilirubin được cô đặc trong túi mật. Sự hấp thụ của nước và các chất điện giải là do sự vận chuyển tích cực của Na+ qua tế bào biểu mô túi mật. Bình thường mật được cô đặc khoảng 5 lần, khả năng cô đặc tối đa có the tới 12 đến 20 lần.

Thành phần của mật

Thành phần của mật ồ gan và ở trong túi mật khác nhau. Ta thấy thành phần chủ yếu của mật là muối mật (chiếm khoảng 50% các chất hòa tan của mật). Ngoài ra trong mật còn có bilirubin, cholesterol, lecithin và các chất điện giải. Trong quá trình cô đặc ở túi mật, nước và phần lớn các chất điện giải (trừ ion Ca++ ) được tái hấp thu bởi niêm mạc túi mật. Muối mật, cholesterol, lecithin được cô đặc ở túi mật.

luu-tru-bai-tiet-thanh-phan-dich-mat-2

Sự bài xuất mật

Mật được bài xuất từ túi mật vào tá tràng nhờ có sự co bóp của tủi mật và sự giãn ra của cơ vòng Oddỉ.

Bài xuất mật được điểu hóa theo cơ chế thần kinh và hoóc môn.

Cơ ché thần kinh

Kích thích các sợi thẳn kinh cholinergic của dây X và hệ thẳn kinh ruột sẽ làm các sợi này bài tiết acetychlin. Acetylecholin sẽ làm túi mật co bóp.

Cơ chế hoóc môn

Khi thức ăn vào tá tràng, sự có mặt của mỡ trong thức ăn sẽ kích thích niêm mạc tá tràng và phần trên hổng tràng bài tiết hoóc môn cholecystokinin. Cholecytokinin làm túi mật co bóp theo nhịp, đổng thời làm giãn cơ vòng Oddi, do dó mật được bài xuất vào tá tràng, cơ vòng Oddi cũng dược giãn ra dưới tác dụng của nhu động ruột. Khi sóng nhu động đi qua hành tá tràng, pha giãn của mồi sóng nhu động làm giằn cơ thành ruột, đồng thời làm giãn cơ vòng Oddi. Két quả là mật đi vào tá tràng dưới dạng những tia đồng bộ với các sóng như động của tá tràng.

Như vậy, bài xuất mật chủ yếu do tác dụng của cholecystokinin. Khi không có mỡ trong thức ăn, sự bài xuat tiết xuất mặt rất yếu. Khi có một lượng mỡ thích hợp, sự bài xuất mật được hoàn tắt trong vòng một giờ.

Xem thêm: Bà bầu bị đau dạ dày phải làm sao

Tác dụng của muối mật

luu-tru-bai-tiet-thanh-phan-dich-mat-3

Các tế bào gan tạo ra khoảng 0,5g muối mồi ngày. Tiền chất của muối mặt là cholesterol (do thức ăn cung cấp hoặc tổng hợp trong các tế bào gan trong quá trình chuyển hóa md). Cholesterol được chuyển thành axit cholic hoặc axit chonode- soxycholỉc với lượng bằng nhau. Các axit glycochlic và axỉt taurochlỉc. Muối của các axit này được bài tiết vào mật.

Chức năng của muối mật trong ổng tiêu hóa

Nhũ tương hóa mỡ

Muối mặt làm giảm sức căng bể mặt của các hạt mỡ, khi đó những cử động lắc lư của ruột sẽ làm vỡ những hạt cầu mỡ thành rất nhiều hạt có kích thích rất nhỏ, để các men lìpase có thể tác dụng trên bề mặt các hạt mỡ đó.

Muối mật

Mỡ mật giúp cho sự hấp thu của các axit béo, monglycerid, Cholesterol và các ỉipit ò ruột non bằng cách: muối mật cũng tạo ra những phúc hợp rất nhỏ gọi là các hạt mixen (micelle). Các hạt mixen có tác thể hòa tan trong nước nhờ các nhóm ưa nước của muôi mật. Lipit được vận chuyển dưới dạng các hạt mixen đến diểm bàn chải của té bào biểu mô niêm mạc ruột, rồi được hấp thu. Nêu không có muối mật trong ruột non, trên 40% lipit bị mất theo phân, bệnh bệnh nhân sẽ bị thiếu hụt chuyển hóa do mất mỡ.

Share.

Leave A Reply