Sự bài tiết nước bọt để tiêu hóa thức ăn

0

Sự bài tiết nước bọt

Thành phần và những đặc tính của nước bọt

Các tuyến nước bọt chính là tuyến nằm ở mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi. Ngoài ra còn có rất nhiều tuyến nhỏ ở trong miệng. Lượng nước bọt bài tiết hàng ngày vào khoảng tù 800 đến 1500 mL Nước bọt gồm thanh dịch chứa men ptyalin (cũng gọi là – amyỉase) và chắt nhầy để bôi trơn thức ăn. Nồng độ ion K+ trong nước bọt cao cấp gắp 7 lần trong huyết tương, nồng độ HC03 cao gắp 3 lẩn. Ngược lại, nồng độ ion Na+ và cl trong nước bọt chĩ bằng 1/7 đến 1/10 nồng độ của chúng trong huyết tương.

su-bai-tiet-nuoc-bot-de-tieu-hoa-thuc-an-1

Các tuyến mang tai chỉ bài tiết thanh dịch, các tuyến nước bọt ồ miệng chĩ bài tiết chất nhây. Các tuyến dưới hàm và dưới lưỡi bài tiết cả thanh dịch và chất nhầy.

Độ pH của nước bọt từ 6,0 đến 7,4 là pH tối thuận cho tác dụng tiêu hóa của men ptyalin.

Vai trò của nước bọt

Men ptyalin có tác dụng phân giải tinh bột chính thành đường maltose, maltotriose và dextrin.

Vệ sinh răng miệng: Trong điểu kiện cơ sở, lưu lượng nước bọt khoảng 0,5ml/phút, sự bài tiết này đóng vai trò quan trọng trong vệ sinh răng miệng. Trong miệng có rẩt nhiều loại vi khuẩn gây bệnh dễ dàng hủy hoại các mô và cũng có thể gây sâu răng. Nước bọt chống lại quá trình hủy hoại này vì nước bọt chảy sẽ cuốn đi những vi khuẩn gây bệnh cũng như nguồn thức ăn cung cấp cho sự chuyển hóa của chúng. Nước bọt cũng chứa một số chất giết vi khuẩn như ion thiocyanat, lysozym. Nước bọt còn chứa kháng thể có thể tiêu diệt vi khuẩn ở miệng, kể cả những vi khuẩn gây sâu răng. Do đó, nếu không có nước bọt, miệng dề bị loét hoặc bị sâu răng.

Nước bọt còn giúp cho sự phát âm (nói) vì nước bọt làm cho môi, lười cử động dề dàng.

Bệnh về đường tiêu hóa: Sa dạ dày: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

Điêu hòa bài tiết nước bọt

Nước bọt bài tiết theo cơ ché thẩn kinh. Các kích thích vị giác và xúc giác từ lưỡi và miệng truyền vể nhân nước bọt nằm giữa hành năo và cắu não rổi theo dây thẩn kinh phó giao cảm (dây X, dây thần kinh mặt) đến các tuyến nước bọt. Vị chua làm nước bọt bài tiết nhiều gấp 8 đến 20 lẳn mức độ bình thường. Các vật ươn nhằn ưong miệng cũng làm tăng bài tiết nước bọt. Sự bài tiết nước bọt cũng chịu ảnh hưởng của các trung tâm thẳn kinh ở cao hơn, ví dụ trung tâm ngon miệng, trung tâm nếm, trung tâm ngửi… Nước bọt còn được bài tiết nhiều khỉ người ta uống phải những chất kích thích hoặc khi bị nôn do rối loạn tiêu hóa. Nước bọt nuốt vào sẽ giúp pha loãng hoặc làm trung hòa chất kích thích đó.

su-bai-tiet-nuoc-bot-de-tieu-hoa-thuc-an-2

 

Kích thích phó giao cảm làm bài tiết nước bọt loãng, ít chất nhầy. Kích thích giao cảm gây bài tiết ít nước bọt từ tuyến dưới hàm, các tuyến mang tai không bài tiết.

Khi các tuyến nước bọt bài tiết, các tế bào cũng sản xuất ra bradykinin làm giãn mạch để tăng cung cấp máu cho các tuyến. Atropin và các chất chẹn phó giao cảm có tác dụng ức chế bài tiết nước bọt.

Kết quả tiêu hóa ở miệng

Nhờ động tác nhai và sự bài tiết nước bọt, thúc ăn được cắt nghiền, trộn lẫn với nước bọt thành những viên thức ăn mềm, trơn, rồi được lười đưa vào họng và thực quản, về mặt hóa học, dưới tác dụng của men ptyalin, một sổ tinh bột được chuyển thành đường maltose. vì thế khi ăn chất bột nếu ta nhai kỹ sẽ thấy có vị ngọt. Men ptyalin của nước bọt sẽ tiếp tục phân hủy tinh bột thành đường maltose cho đén khi viên thúc ăn trỏ thành axit dưới tác dụng của dịch vị.

Ngoài ra, cũng nên lưu ý là do nồng độ ion K+ trong nước bọt rất cao (gấp 7 lần trong huyết tương) nên trong các tình trạng bệnh lý, nếu nước bọt bị mẩt khỏi cơ thể trong một thời gian dài, thì người ta có thể mất nhiều K+ làm nồng độ ion K+ huyết tương giảm, có thể gảy liệt.

Share.

Leave A Reply