Kết quả tiêu hóa và sự hấp thu ở ruột non

0

Nhờ các men tiêu hóa của dịch tụy, dịch ruột và muối mặt, các thức ãn potein, lipít, và gỉucỉd được tiêu hóa thành những sản phẩm cuối cùng có thể hấp thu được là các axit amin, monosaccarid, axit béo và glycerol.

Sự hấp thu ở ruột non

Lượng dịch được hấp thu hàng ngày vào khoảng 8-9 lít bao gồm các dịch tiêu hóa (71) và dịch của thức ăn (1,51). Khoảng 7,5 1 dịch được hấp thu ở ruột non, còn lại 1,51 qua van hồi manh tràng để xuống ruột già. Sự hấp thu xảy ra chủ yếu ở ruột non vì những lý do sau:

ket-qua-tieu-hoa-1

Diện tích hẩp thu ở ruột non rất lớn (từ 250 đến 300m2) nhờ cấu tạo đặc biệt của niêm mạc ruột non; các nếp gẩp hình van, nhung mao, vi nhung mao làm tăng diện tích hấp thu của niêm mạc ruột lên nhiều lần.

Chỉ ở ruột non các chắt dinh dưỡng mới được tiêu hóa triệt để thành những sản phẩm cuối cùng có thể hấp thu được.

Sự hấp thu thức ăn xảy ra theo cơ chê khuếch tán và vận chuyển tích cực.

Hấp thụ các chất dinh dưỡng

Hấp thu glucid

Glucid được hấp thu chủ yếu dưới dạng monosaccarid và một phần rất nhỏ dưới dạng disaccarid.

Các monosaccarid được hấp thu theo cơ chế vặn chuyển tích cực thứ phát (đổng vận chuyển với Na+) và khuếch tác được tăng cường (faciltated diffusaion, còn dịch là khuếch tán thuận hóa).

ket-qua-tieu-hoa-glucid

 

Thứ tự ưu tiên của các monosaccarid được vận chuyển và tốc độ vận chuyển của chúng so với glucose như sau:

  • Galactose: 1,1
  • Glucose: 1.0
  • Frutose: 0,4
  • Mannose: 0,2
  • Xylose 0,15
  • Arabinose: 0,10

Sự hấp thu của glucose và galactose: từ lòng ruột glucose và galactose được vận chuyển qua diem bàn chải vào tế bào biểu mô theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ phát. Protein mang của glucose hoặc galactose có mặt ở diểm bàn chải, prtein mang có hai vị trí gắn, một với glucose và một với ion Na+. Chỉ khi cả glucose và ion Na+ đã được gắn vào protein mang thì protein này mới thay đổi hình dạng để đưa cả Na+ và glucose vào bên trong tế bào. Năng lượng đê vận chuyển (tức là năng lượng cẩn cho sự thay đổi hình dạng của protein mang) là do sự chênh lệch nồng độ ion Na+, giữa lòng ruột và tế bào biểu mô. Cổ nghĩa là khi Na+ khuếch tán từ lòng ruột vào tế bào, nó sẽ kéo theo glucose đi cùng với nó, như vậy, nó cung cắp năng lượng để vận chuyển ngược bậc thang. Cơ ché này được gọi là sự đổng vận chuyển với Na+ của glucose hoặc cơ chế vận chuyển tích cực thứ phát. Khi náng độ glucose ở trong tế bào tăng cao, glucose sè khuếch tác qua màng đáy bên của tế bào biểu mô để vào máu theo cơ chế khuếch tán được tăng cường (facilitated). Tốc độ hấp thu tối đa của glucose vào khoảng 120g/giờ.

Không nắm được nguyên tắc hấp thụ các chất dinh dưỡng đặc biệt ở bà bầu tình huống xấu sẽ dẫn tới các bệnh về đường tiêu hóa mà phổ biến nhất là bệnh dạ dày ở bà bầu.

Sự hắp thu của fructose

Từ lòng ruột fuctose được vận chuyển vào tê bào biểu mô theo cơ chế khuếch tác được tăng cường, ớ bên trong tế bào, fuctose được chuyển thành glucose. Glucose được vận chuyển vào máu theo cơ chế khuếch tác được tăng cường (facilitated) còn dịch là được thuận hóa hoặc cũng gọi là cơ chế khuếch tán qua vặt mang (carrier mediated diffusion).

Hấp thu protein

Hầu hết protein được hấp thu qua màng ruột dưới dạng dipeptid, tripeptid hoặc axit amin theo cơ chế đổng vận chuyển với Na+. Các phân tử peptid hoặc axit amin cùng với ion Na+ sẽ giúp protein mang đặc hiệu. Năng lượng do sự chênh lệch nồng độ ion Na+ sè giúp protein mạng thay đổi hình dạng để đưa cả Na+ và peptid hoặc axit vào bên trong tế bào. Có một số nhỏ axit amin đi từ lòng ruột vào tế bào biểu mô theo cơ ché khuếch tán do protein mang, có một số nhỏ axit amin đi từ lòng ruột vào tế bào biểu mô theo cơ chế khuếch tán do protein mang, có 5 loại protein mang khác nhau, đặc hiệu cho từng loại axit amin và peptid. Các axit amin được vận chuyển bằng té bào máu theo cơ ché khuếch tán do protein mang.

ket-qua-tieu-hoa-protein

Sự hấp thu axit amin xảy ra rất nhanh ở tá tràng và hồng tràng nhưng châm ở hồi tràng. Khoảng 15% protein ăn vào sẽ đi xuống ruột gỉà và được tiêu hóa dưới tác dụng của vi khuẩn. Các protein trong phân không phải bắt nguổn từ thức ăn mà là protein của vỉ khuẩn, và các mảnh tế bào bong vào ruột non.

Ở trẻ con, một số protein chưa được tiêu hóa cũng có thể được hấp thu theo cơ chế ẩm bào. vì vậy các protein kháng thể từ sữa non của mẹ có thể được hấp thu vào máu tạo ra miễn dịch thụ động giúp trẻ chống lại các tác nhân gây bệnh. Do trẻ em có thể hấp thu các protein chưa được tiêu hóa, các protein lạ này vào hệ thống tuần hoàn sẽ kích thích tạo kháng thể và phản ứng kháng nguyên kháng thể sẽ gây ra các triệu chứng dị ứng. Ví dụ trẻ em có thể bị dị ứng khi ăn một số thức ăn như trứng, hải sản. V.V.. Dị ứng với thức ăn sẽ mất dần khi trẻ lớn lên.

Share.

Leave A Reply