Dấu hiệu chính cho thấy mắc bệnh đường tiêu hóa

0

Các triệu chứng chính ở bộ máy tiêu hóa

Môi

Môi sẽ khô là đang ở trong trạng thái cơ thể bị mất nước như ỉa lỏng, nôn nhiều, nhiễm trùng, nhiễm trùng độc thức ăn, trong sốt cao, sốt lâu ngày.

Môi nhợt là ở trong trạng thái mất máu.

Lưỡi

dau-hieu-cho-thay-mac-benh-duong-tieu-hoa-1

Nhìn lưỡi một phần nào có thể đoán được tình trạng tiêu hoá.

  • Lười bự trắng: rối loạn tiêu hoá, viêm loét dạ dày, tá tràng, trong sốt kéo dàị.
  • Lưỡi khô đổ: trong sốt cao
  • Lưỡi bự vàng gặp trong bệnh gan mật.
  • Nứt nẻ mặt lưỡi: rối loạn tiêu hoá, rói loạn dinh dưỡng lâu ngày.
  • Loét lưỡi, loét miệng gặp trong rối loạn dinh dưỡng thiếu vitamin nhóm B.
  • Lưỡi nhẵn li (nhìn không còn gai lưỡi) gọi là lưỡi

Hunter gặp trong bệnh thiếu máu ác tính Biermer.

Tuyến nước bọt

Tiết nhiều

Thường gặp trong viêm tuyến nước bọt, trong bệnh dạ dày tá tràng kích thích dây thần kinh phế vị, gặp trong nhiễm độc thuỷ ngân và iốt.

Giảm tiết

Hay gặp trong các bệnh gây rối loạn tiêu hoá lâu ngày, thương hàn, ỉa lỏng. Gặp trong trường hợp dây thần kỉnh phế vị bị ức chế hoặc dùng atropin, benladon Kều cao. Ngoài ra còn gặp trong các bệnh sốt khác.

Đau bụng

Đau bụng là triệu chứng thường gặp nhất trong bệnh đường tiêu hoá.

Trước hết là phải xác định được đau ở vị trí nào, vị trí đó tương ứng với tạng phủ nào.

Chia vùng bụng

dau-hieu-cho-thay-mac-benh-duong-tieu-hoa-2

  • Kẻ đường ngang trên qua nơi thấp nhất ở bờ sườn, từ phải sang trái.
  • Kẻ đường ngang dưới qua 2 gai chậu trước trên.
  • Kẻ đường thẳng từ giữa xương đòn đến giữa nép gấp bẹn 2 bên.

Như vậy trên mặt bụng đà được làm 9 vùng, tính từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, ta có:

  • Hạ sườn phải: tương ứng với gan bên phải và túi mật, hành tá tràng, ống mật chủ, góc đại tràng lên.
  • Thượng vị tương ứng với gan trái, dạ dày, đại tràng ngang, tuy tạng, sau cùng là đám rối dương.
  • Hạ sườn trái: tương ứng có lách, góc đại tràng lên.
  • Mạng sườn phải: tương ứng với đại tràng lên.
  • Vùng rốn: tương ứng với ruột non.
  • Vùng mạng sườn trái: tương ứng với đại tràng xuống.
  • Vùng hố chậu phải: tương ứng với manh tràng, ruột thừa, buồng trứng ở phụ nữ, niệu quản phải.
  • Vùng hạ vị: có hồi tràng, cổ bàng quang, tử cung (nếu không cổ thai, tử cung nằm khuất sau xương mu không sờ thấy). Sau bàng quang là trực tràng.
  • Hố chậu trái: có đại tràng sigma, buồng trúng bên trái, niệu quản trái.

Xem thêm: Lá vú sữa chữa bệnh đau dạ dày như thế nào

Tinh chất đau

  • Đau ê ẩm
  • Đau nóng rát trong viêm dạ dày
  • Đau có chu kỳ trong loét dạ dày – tá tràng
  • Đau lúc đói, ăn vào đờ đau: trong loét hành tá tràng.
  • Đau kèm theo nôn ra chắt chua, hăng, trong viêm dạ dày cấp.
  • Đau kèm theo nôn và ỉa lỏng trong viêm vị tràng cấp.
  • Đau kèm theo vàng da, đau vùng gan mật.
  • Đau vùng gan mật có sốt cao: viêm mủ ở gan.
  • Đau từng cơn trong tắc ruột, lồng ruột, giun, sán.
  • Đau đột ngột như dao đâm trong thủng dạ dày, tá tràng.
  • Đau dưới bụng cứng như gổ trong viêm phúc mạc cấp.

Đau theo vùng

  • Đau vùng hạ sườn phải, gan mật
  • Đau vùng thượng vị, đau dạ dày
  • Đau vùng hạ sườn trái, đau lách hay đuôi tuy.
  • Đau dọc theo khung đại tràng: trong bệnh viêm đại tràng.
  • Đau hổ chậu phải cấp tính kèm theo sốt, thường là viêm ruột thừa cấp; đau quặn kèm theo mót rặn, không sốt, phân có chắt nhầy và máu tươi, ly amỉp.
  • Đau hổ chậu trái quặn từng cơn ở trực tràng, phân màu nâu hổng như nước rửa thịt, có sốt kèm theo thường là ly trực khuẩn.
  • Đau vùng hạ vị, chú ý tới sỏi bàng quang hoặc viêm tử cung, hoặc u nang buồng trứng bị xoắn.
  • Đau điểm sườn lưng, phía sau (bờ ngoài khối cơ lưng to thẳng cách cột sống hợp với xương sườn 12 thành 1 góc) lấy ngón tay ấn vào góc sườn lưng bệnh nhân đau nẩy người lên là viêm tuy.
  • Dấu hiệu Murphy: bờ ngoài cơ thẳng lớn ở bụng gặp bờ sườn bên phẳỉ nơi đó có túi mật. Lấy ngón tay ấn sâu vào điểm này đổng thời bệnh nhân hít hơi vào, gan và túi mật bị đẩy xuống chạm vào ngón tay. Nếu túi mật bị viêm sẽ gây đau, ta gọi là dấu hiệu Murphy dương tính.

Những chấn thương đụng giập ở bụng

dau-hieu-cho-thay-mac-benh-duong-tieu-hoa-3

Có những va chạm gọn vào ổ bụng, tuy không thấy bầm tím, xây sát thành bụng, nhưng nếu thấy đau nhiều, bụng căng chướng hoặc cứng như gỗ phải nghĩ tới thủng tạng rong (dạ dày, ruột).

Có những chắn thương va chạm (đá vào bụng) lúc đầu bệnh nhân đau chói sau đỡ dần và tiếp tục làm việc. Sau 1,2,3 ngày nạn nhân đau đột ngột trở lại, mặt mũi nhợt nhạt hoặc sốc mất máu phải nghĩ ngay tới vỡ tạng đặc (lách, gan) vì lách gan có 1 vỏ xơ. Sau khi bị đụng giập chảy máu được vỏ xơ kìm hãm lại, đen lúc vồ xơ bị phá vỡ máu chảy ào ạt vào ổ bụng gây tình trạng nguy kịch, cẩn cắp cứu khẩn cắp ngoại khoa ở các bệnh viện để cắt lách, khâu gan.

Điểu trị

Dựa vào vị trí và tính chất của cơn đau bụng để chẩn đoán bệnh, chính vì vậy điểu trị làm giảm đau bụng phải hết sức thận trọng, còn nếu cho thuốc giảm đau ngay các triệu chúng sẽ bị lu mờ, mò mẫm trong chẩn đoán. Như vậy, cắn cổ chẩn đoán chắc chắn trước khi cho thuốc giảm đau, nhất là nhừng trường hợp cần xử trí phẫu thuật. Thuốc giảm đau điển hình là mocphỉn, promedoL

Thuốc giãn cơ trơn, giảm cường thần kinh phế vị, giảm tiết dịch như atropỉn, beladon.

Share.

Leave A Reply