Sự bài tiết chất ức chế trypsin ion HCO3 và nước

0

Sự bài tiết các chất ức chế trypsin

Trypsin và các men khác có thể tiêu hóa bản thân tuyến tụy nên các men tiêu protein của dịch tụy chỉ trở nên hoạt động khi chúng đã được bài tiết vào ruột non.

su-bai-tiet-chat-uc-che-trypsin-2

Ngoài ra, các tế bào bài tiết men tiêu protein vào các nang tụy cũng đổng thời bài tiết chắt sức chế trypsin. Chất này dược chúa trong bào tương xung quanh các hạt zymogen. Như vậy có ngăn cản sự hoạt hóa của trypsin ở bên trong các tế bào bài tiết, trong các nang và các ống tuyến tụy. vì trypsin hoạt hóa các men tiêu protein khác của tụy và hoạt hóa cả phospholipase A nên chất ức chế trypsin cũng ngăn cản sự hoạt hóa tiếp theo của các men này.

Khi tụy bị tổn thương nặng hoặc khi một ổng tụy bị tắc nghẽn, một lượng lốn dich tụy sẽ tập trung ố vùng tụy bị tổn thương. Khi đó tác dung của chất úc chế trypsin bị lấn át, các men tiêu protein và men phospholipase A của dịch tụy nhanh chóng được hoạt hóa sẽ tiêu hóa toàn bộ tuyến tụy trong vài giò. Đó là bệnh viêm tụy cấp có thể gây tử vong do kém theo xốc hoặc dẫn đến suy tụy.

Sự bài tiết ion HC03 và nước

Các men tiêu hóa của tụy là do các nang tụy bài tiết. Nước và ion HC03 là do các tế bào biểu mô của ống tuyến tụy bài tiết. Sự bài tiết ion HC03 và nước diễn ra như sau:

(1) C02 khuếch tán từ máu vào tế bào biểu mô; tại đây, dưới tác dụng của men CA, C02 kết hợp với nước tạo thành H2C03, H2C03 phân ly thành H+ và HC03, rồi HC03 được vận chuyển tích cực vào lòng ổng;

(2) Ion H+ từ tế bào vào máu để trao đổi với ion Na+ từ máu vào tế bào theo cơ ché vận chuyển tách cực. Sau đó Na+ được khuếch tán từ tế bào vào lòng ổng;

(3) Sự vặn chuyển của HC03 và Na+ từ máu vào lòng ống sinh ra một bậc thang thẩm thấu để kéo nưóc vào lòng ổng tuyến tụy. Như vậy tạo ra dung dịch bicarbonat ỗ tuyến tụy.

Điểu hòa bài tiết dịch tụy.

Dịch tụy được bài tiết theo cơ ché thần kinh và thể dịch (hoóc mon).

su-bai-tiet-chat-uc-che-trypsin-3

Cơ chế thần kinh

Kích thích dây X hoặc kích thích hệ thần kinh ruột thì các tận cùng cholinergic sẽ giải phóng ra actylcholin. Acetycholin chủ yếu kích thích các té bào nang và ít tác dụng lên các tê bào ống tuyên tụy. Kểt quả là một lượng lớn men tiêu hóa được bài tiết nhưng dịch thì rất ít. Không có dịch, các men tạm thời bị giữ lại trong các nang và ổng tuyến cho đến khi dịch được bài tiết đủ để đưa chúng vào tá tràng.

  • Gastrin: Khi thức ăn vào dạ dày, niêm mạc vùng hang bài tiết một lượng lớn gastrin. Gastrin theo máu đến kích thích nang tụy bài tiết các men tiêu hóa nhưng rất ít dịch.
  • Cholecystokinin: Khi thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng, sự có mặt của proteose, pepton, các axit béo mạch dài, HC1 sẽ kích thích các tế bào niêm mạc tá tràng và phần trên của hổng ưàng khi bài tiết cholecyskinin. Cholecyskinin theo máu đến kích thích các nang của tuyến tụy bài tiết các men tiêu hóa.

Xem thêm bệnh đường tiêu hóa: Sa dạ dày: Nguyên nhân, triệu chứng, cách chữa trị

Cholecyskinin có tác dụng quan trọng trong việc kiểm soát sự bài tiết các men tiêu hóa của tuyến tụy.

  • Secretin: Do các tê bào s của niêm mạc tá tràng và phần trển hỗng tràng bài tiết dưới dạng tiền men chưa hoạt động là prosecretin. Khi HCL của vị trap đi vào tá tràng, nó sẽ kích thích tuyến tụy bài tiết một lượng dịch lớn chứa nhiểu ion HC03, bicarbonat phản ứng với HCl theo phản ứng sau:

HCl + NaHC03 -> NaCl + H2C03

H2C03 sẽ phân ly thành C02 và H2C02 được hấp thụ vào máu và bài xuất qua phổi, dung dịch NaCl trung tính ở lại tá tràng. Bằng cách đó HC1 của vị trap của tá tràng sẽ bị trung hòa và hoạt tính tiêu hóa của dịch vị bị ngăn chặn. Đây là cơ chế bảo vệ chủ yếu chống lại sự phát triển của loét tá tràng.

  • Bicarbonat của dịch tụy tạo pH thích hợp cho các men tiêu hóa của tụy. Các men này có tác dụng tối đa ưong môi trường hoi kiểm hoặc trung tính, PH của dung dịch NaHC03 là 8,0.
Share.

Leave A Reply